Xem tất cả
S? ?? h??ng d?n th?m quan
Qu?ng cáo
 
  Nghiên cứu và sưu tầm      
Tham vọng của Navarre trong bản kế hoạch mang tên mình

Nhậm chức Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tháng 5 năm 1954, ngay sau đó Navarre đã sang Việt Nam nghiên cứu và khảo sát chiến trường. Bản kế hoạch Navarre ra đời trong thời gian này đã được đệ trình trước Hội đồng Tham mưu trưởng và Hội đồng Quốc phòng tối cao Pháp. Lần đầu trong chiến tranh Đông Dương, một tổng chỉ huy có kế hoạch chiến lược về quân sự nhằm giành chiến thắng trong hai năm. Kế hoạch Navarre về đại thể chia làm hai bước:

- Trong Thu Đông năm 1953 và mùa Xuân năm 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tập trung một lực lượng cơ động lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với cuộc tiến công của ta; thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng ba tỉnh tự do ở đồng bằng Liên khu 5; đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng quân ngụy và xây dựng một đội quân cơ động lớn đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực của ta.

- Từ Thu Đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu trên, sẽ dồn toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường chính giành thắng lợi lớn về quân sự, buộc ta phải chấp nhận điều đình theo những điều kiện của Pháp, nếu ta khước từ, quân cơ động chiến lược của địch sẽ tập trung mọi nỗ lực loại trừ chủ lực ta.

Trước đó ngay từ lúc mới sang nhậm chức Navarre đã có những việc làm mạnh mẽ và dứt khoát trong đó có việc thay đổi lại một số tướng, tá chỉ huy mà ông ta cho rằng họ có trách nhiệm về tình hình xấu đi vừa qua đồng thời quan sát, tìm hiểu chiến trường, nắm tình hình thực tế để đề ra kế hoạch hoạt động cho đội quân viễn chinh Pháp. Navarre luôn nêu cao những khẩu hiệu: "luôn luôn chủ động", "luôn luôn tiến công".

Trên cơ sở những nét lớn về tình hình Đông Dương, Navarre đã đưa ra một số nhận định về những thiếu sót khiến cho tình hình quân sự ngày càng trì trệ. Tình hình chiến sự ở Việt Nam ngày càng bất lợi đối với quân đội viễn chinh Pháp, Quân đội Việt Minh đã lớn mạnh, bộ đội chủ lực rất thiện chiến, bộ đội địa phương quen thuộc chiến trường, lực lượng cơ động mạnh gồm nhiều đại đoàn được trang bị tốt, tinh thần chiến đấu rất anh dũng, có khả năng mở những chiến dịch tiến công quy mô tương đối lớn. Chiến tranh du kích của họ phát triển cao đã ngăn chặn và tiêu hao nhiều sinh lực quân Pháp.

Trong khi đó, lực lượng quân viễn chinh Pháp ngày càng lâm vào tình trạng phân tán và bị động. Phần lớn phải làm nhiệm vụ phòng ngự trong hàng nghìn đồn bốt rải rác trên các chiến trường. Tuy quân Pháp đông hơn quân Việt Minh nhưng lại kém xa Việt Minh về khả năng cơ động và khả năng tập trung binh lực trong các chiến dịch lớn. Lực lượng chiếm đóng địa phương đã yếu, lực lượng dự bị càng yếu hơn, thiếu hẳn một lực lượng cơ động mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của chủ lực Việt Minh.

Về kế hoạch quân sự, việc đầu tiên là Navarre xác định “tìm một lối thoát ra khỏi sự bế tắc ở Đông Dương”. Theo Navarre lối thoát này chỉ có thể là “lối thoát chính trị”, tức là phải tạo nên những điều kiện quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có danh dự đối với Chính phủ Pháp. Muốn có giải pháp chính trị tốt thì điều kiện quân sự của cuộc chiến tranh là phải bảo vệ những vị trí của chúng ta và cải thiện nó trong điều kiện có thể. Hai vấn đề nổi rõ lên là tổ chức quân đội và tác chiến. Về tổ chức quân đội, từ nghiên cứu thực tế, tương quan lực lượng quân giữa khối liên hiệp Pháp với “bộ đội Việt Minh”, phải  tiến hành xây dựng một quân đoàn tác chiến mạnh và một lực lượng dự bị chiến lược đông đảo. Quân đoàn tác chiến gồm 6 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn dù, được biên chế thành 24 binh đoàn cơ động (trong đó có 12 binh đoàn quân ngụy Việt Nam), 3 binh đoàn dù.

Với Navarre, “quân đoàn tác chiến” phải mạnh hơn và cơ động hơn, tương đương với quân đoàn tác chiến của đối phương. Trong kế hoạch của mình, Navarre ưu tiên tăng thêm và chấn chỉnh lính Pháp ở Đông Dương, đồng thời dùng mọi phương sách để tập trung lực lượng cơ động lại. Khẩu hiệu của Navarre là “tập trung lực lượng, tích cực tấn công, giành lại chủ động”.

Để có lực lượng tổ chức các binh đoàn cơ động phải thực hiện 2 yêu cầu: Rút các đơn vị đang đóng quân tại Tây Đức trong khối xâm lược Bắc Đại Tây Dương, rút ở Algérie và quân ở Triều Tiên sau khi bị đánh bại trở về. Còn ở Việt Nam, Navarre tích cực thi hành chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, theo dự định trong kế hoạch là 54 tiểu đoàn Ngụy quân trong năm 1953 và 108 tiểu đoàn trong năm 1954. Navarre còn chủ trương "vàng hóa” quân đội Lê dương, nghĩa là rút bớt một số lính Lê dương ở từng đơn vị ra rồi bổ sung số thiếu bằng Ngụy binh, như vậy sẽ dôi ra được một số lính Lê dương để tổ chức thêm đơn vị mới.

Về tác chiến, Navarre chủ trương trong Đông Xuân 1953 - 1954 tránh giao chiến toàn bộ với chủ lực đối phương, tập trung vào việc tổ chức quân đoàn tác chiến mạnh; đến chiến cuộc 1954 - 1955 (khi quân đoàn cơ động tác chiến đủ mạnh) sẽ tiến hành giao chiến toàn bộ với đối phương. Navarre định ra kế hoạch tác chiến trong hai năm tới phải tiến hành. Trong chiến cuộc 1953 - 1954, thực hiện phòng ngự chiến lược ở phía Bắc vĩ tuyến 18, tránh giao chiến toàn diện; nhưng cố gắng thực hiện tiến công ở phía Nam vĩ tuyến 18, nhằm bình định miền Nam, tiến công chiếm đóng vùng tự do liên khu 5. Sau khi đã có được ưu thế về lực lượng cơ động, từ mùa thu 1954 sẽ chuyển lên tiến công phía Bắc vĩ tuyến 18, tạo nên một cục diện quân sự khiến cho Pháp có được một giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh.

Đối với Pháp và Mỹ đây là một kế hoạch táo bạo, kiên quyết và chắc thắng vì có cơ sở đánh giá hai bên đối chiến một cách khách quan: “...trong chiến tranh, đánh giá thấp đối phương là một sai lầm nặng nhưng thật là ngờ nghệch nếu đánh giá quá cao đối phương. Tình hình thuận lợi cho chúng ta, chiến thắng là chắc chắn nhưng nó chỉ đến với ai biết nắm lấy nó. Người ta chỉ có thể thắng bằng cách tiến công...”.

Chẳng thế mà ngoại trưởng Mỹ Đalet đã đánh giá: “Kế hoạch Navarre trong 2 năm tới, nếu không phải là một thắng lợi hoàn toàn thì ít nhất cũng thu được kết quả nhất định về quân sự”. Còn Thủ tướng Pháp Lanien thì phấn khởi nói trên diễn đàn Quốc hội: “Kế hoạch Navarre chẳng những được Chính phủ Pháp mà cả những người bạn Mỹ cũng tán thành. Nó cho phép hy vọng đủ mọi điều”.

Với bản kế hoạch này, tương lai của quân viễn chính Pháp đang mở ra trước mắt, hứa hẹn sẽ lật ngược được thế cờ, mang lại nhiều hy vọng. Báo chí phương Tây đã tốn không ít giấy mực, dùng những từ ngữ khoa trương để ca ngợi bản kế hoạch này và tin rằng không chỉ nước Pháp mà nước Mỹ cũng sẽ thỏa mãn với chiến lược mới.

Cụ thể hóa bản kế hoạch này, để nó không chỉ được vẽ trên giấy, Navarre đã tiến hành một loạt các hoạt động ngay từ mùa hè năm 1953. Hàng chục cuộc hành quân càn quét dữ dội vùng tạm bị chiếm ở Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên và Nam Bộ được tiến hành, đáng kể có cuộc hành binh Hải Âu đánh vào Tây Nam Ninh Bình nhằm ngăn chặn lực lượng của ta tấn công tại đây. Những hành động này đã cho thấy Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre đã điều động 22 tiểu đoàn đánh ra Tây Nam Ninh Bình với cuộc hành quân mang tên Hải Âu khá táo bạo và tự tin, có phần chủ quan.

Về phía ta, về cơ bản đã có những đối sách ứng phó trước chiến lược mới của địch. Sự phát triển về lực lượng, kinh nghiệm chiến đấu từ những chiến dịch vừa và nhỏ trước đó đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của quân đội. Trong khi địch phải chia lực lượng ra hầu khắp các chiến trường để thực hiện chiến lược mới thì ta có thể tổ chức được lực lượng nửa vũ trang chiến đấu tại chỗ, kết hợp với quân chủ lực nhanh chóng dập tắt các cuộc càn quét của địch, tạo nên những lợi thế nhất định trên cục diện chung. Trên chiến trường Bắc Bộ chuyển hướng tấn công lên Tây Bắc, tiêu diệt quân đồn trú đang đóng ở Lai Châu, uy hiếp địch ở Thượng Lào, tiến đánh Trung Lào và Hạ Lào. Ở khu 5, đánh Bắc Tây Nguyên để tiêu diệt sinh lực quân đối phương và bảo vệ vùng khu 5 một cách hiệu quả. Các chiến trường Nam bộ, Nam Trung bộ và đồng bằng Bắc bộ cũng được đẩy mạnh với các cuộc chiến tranh du kích.

Như vậy những tính toán để bảo vệ một số vùng chiếm đóng của Navarre đã không nhận được kết quả như mong muốn. Lực lượng bị chia nhỏ, nhiều tiểu đoàn lọt thỏm hoặc bị cô lập trong cùng chiếm đóng của quân đối phương. Sự thất bại của cuộc hành binh Hải Âu làm cho Navarre bế tắc. Lúc này, bản kế hoạch của Navarre đã lộ rõ nhiều sơ hở, rõ ràng Navarre đã không thể đạt được ước muốn từ bản kế hoạch mang tính chiến lược này.

Thất bại của kế hoạch Navarre dẫn tới sự ra đời của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Khởi điểm của chiến lược "con nhím" này chỉ cuộc nhảy dù chặn đứng quân chủ lực Việt Minh phía Tây Bắc. Nhưng sau khi cân nhắc vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ với những ưu điểm vượt trội về mọi mặt, Navarre đã quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm cỡ bự, coi đây là điểm quyết chiến chiến lược cho chiến tranh Đông Dương. Tất nhiên, dồn mọi tâm huyết và nỗ lực cuối cùng ở Điện Biên Phủ, Navarre cũng hi vọng đủ mọi điều, có thể đứng trên bục cao nhất của danh vọng. Và cũng không tránh được số phận của những người đi trước, Navarre cũng không thể biến ước mơ của người Pháp thành hiện thực tại Đông Dương, tệ hơn, ông ta còn là người kết thúc nó sau nhiều năm hấp hối./.

Hồng Nhung


[ ]

Tin liên quan
Sự tương đồng hai chiến thắng lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam
Những con đường thắng lợi
Công tác nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học cho hiện vật
Ghi nhận trong công tác sưu tầm hiện vật
Tìm hiểu hoạt động của Bảo tàng
 
  Th? vi?n ?nh
Liên k?t web
Th?ng kê
 

 

Trang thông tin điện tử BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Nam Hải - Giám đốc
Địa chỉ: Phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Điện thoai: Văn phòng: 0215.3.828208. Phòng bán vé tại Bảo tàng: 0215.3.831341; Mail: btctlsdbp@gmail.com
Chỉ được phát hành lại thông tin từ website này khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ