Xem tất cả
S? ?? h??ng d?n th?m quan
Qu?ng cáo
 
  Nghiên cứu và sưu tầm      
Chính sách khoan hồng với tù binh Pháp

Mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ vào ngày 13/3/1954, ta tấn công vào cứ điểm Him Lam, một trung tâm đề kháng ở phía Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là một trong những cụm cứ điểm mạnh nhất, án ngữ con đường Tuần Giáo vào Điện Biên, được địch bố trí binh, hỏa lực mạnh. Bằng những nỗ lực phi thường, Quân đội nhân dân Việt Nam đã kéo những khẩu pháo lên các triền núi xung quanh lòng chảo, trong đó có sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo 105mm. Với sự bất ngờ này, ta đã giáng cho địch một đòn chí tử ngay từ những giờ phút đầu tiên của cuộc chiến. Sự thất thủ nhanh chóng của trung tâm đề kháng Him Lam sau vài giờ chiến đấu đã khiến địch khiếp vía, tiêu diệt nhiều sinh lực và vũ khí của chúng. Đêm cùng ngày, Đại đoàn 312 báo cáo đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, diệt 300 tên, bắt 200 tên, thu toàn bộ vũ khí, trang bị. Ngay sau đó, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đề nghị nên có "một cử chỉ nhân đạo", cho phép quân địch ở Mường Thanh đượm ra lấy xác và thương binh; hành động này sẽ tác động mạnh tới tinh thần binh lính địch sau trận thảm bại. Ta đã cho một viên sĩ quan bị thương quay về Mường Thanh, thông báo điều này với De Castries. "9 giờ, một chiếc xe jeep cắm cờ trắng có dấu chữ thập đỏ cùng với một xe vận tải và một xe cứu thương từ Mường Thanh chạy ra Him Lam. Viên đại úy bác sĩ Lơ đamani (Lc Damany) xuống xe, xin phép cán bộ ta thu lượm thương binh. Cùng đi với viên đại úy có hai cha tuyên úy và 12 lính Lê dương, trong đó có viên hạ sĩ Kubiắc. Đôi mắt những người mới tới lộ vẻ kinh hoàng. Pháo đài thép Him Lam chỉ còn là một đống đổ nát, lô cốt, ụ súng, đường hào đều bị phá vỡ, sặc mùi thuốc súng. 750 người của Tiểu đoàn 3 bán lữ đoàn Lê dương 13 chỉ còn là hàng trăm xác chết nằm la liệt khắp nơi. Họ thu lượm được 14 thương binh. Một người chết ngay trong tay cha tuyên úy".

Tiếp theo Him Lam, Độc Lập cũng nhanh chóng bị tiêu diệt. Tại đây ta tiêu diệt phần lớn tiểu đoàn Algiêri số 5 của địch, số khác bị thương và trở thành tù binh. Ta tiếp tục trao trả nốt số tù binh này và kêu gọi số lính đóng tại 2 cứ điểm trên đồi Bản Kéo đầu hàng, các truyền đơn, loa truyền thanh được phát tán tới từng cú điểm, các bức tranh cổ động kêu gọi quay đầu đã tác động mạnh mẽ tới tinh thần binh lính. Ngày hôm sau, toàn bộ lính Ngụy Thái đã đầu hàng, chạy về phía Việt Minh với tinh thần phấn khởi, vui mừng. Số lính Algiêri được trao trả còn hô vang khẩu hiệu "Hồ Chí Minh muôn năm! Cảm ơn các bạn!"

Bước vào đợt tấn công thứ hai kéo dài và gay go, ta và địch giành giật nhau từng thước đất, từng mét chiến hào. Khó khăn lớn nhất của ta là vấp phải sự chống trả quyết liệt của địch tại cứ điểm A1, tuy nhiên ta đã tạo nên những điều kiện tất thắng khi đào được hệ thống giao thông hào, siết chặt vòng vây xung quanh trung tâm tập đoàn cứ điểm và kiểm soát vùng trời xung quanh phân khu trung tâm. Việc chi viên cho Điện Biên Phủ của Pháp buộc phải bay cao thả dù trong tình thế nguy hiểm trong tầm hỏa lực của Việt Minh. Cũng chính vì thế, cuộc sống của binh lính Pháp ngày càng sa sút, cùng cực. Chúng phải ở chui rúc trong hầm hào, đói khát, bệnh tật rình rập. Tệ hơn nữa là chúng không còn tinh thần chiến đấu, coi đây là "địa ngục trần gian". Nhiều tên còn sẵn sàng đầu hàng còn hơn tiếp tục chiến đấu trong nguy hiểm và biết trước số phận thảm bại của mình.

Về phía ta, công tác chính trị ngày càng được quán triệt sâu rộng, có hiệu quả. Bên cạnh các đợt học tập, chỉnh đốn tư tưởng và triển khai các chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch và Trung ương Đảng ta đã xây dựng được mạng lưới truyền đơn vận động binh lính địch đầu hàng, phát tán vào tận trong khu trung tâm. Cuối tháng Tư, ta đã xây dựng xong một hệ thống loa truyền thanh chung quanh tập đoàn cứ điểm, thường xuyên tác động vào tư tưởng binh lính đang sống trong "địa ngục trần gian". Anh em còn có sáng kiến làm những bè chở biểu ngữ địch vận, tranh cổ động, thả trôi theo dòng sông Nậm Rốm để những hình ảnh này đập vào mắt quân địch.

Ngày 7/5/1954, sau 56 ngày đêm gian khổ, ác liệt ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với toàn bộ số lính Pháp và kho tàng của chúng ở đây. Trạm tù binh được lập rải rác khắp chiến trường được đối xử tử tế, được dựng lán trại ngủ nghỉ. Bộ đội ta trong nhiều ngày vừa lo cơm ăn, nước uống cho tù binh vừa làm công tác khai thác thông tin và kiểm soát số tù binh này không cho chúng chạy trốn. Có nhiều đơn vị, bộ đội ta còn phải nhường lương thực cho hàng binh địch. "Binh lính địch vóc dáng to lớn tắm giặt ở dưới suối dưới sự canh gác của những chiến sĩ rất trẻ, bé nhỏ, vẻ mặt lành hiền. Từ một khu rừng lảnh ra tiếng phong cầm rộn ràng, hòa với tiếng hát của những tù binh Pháp...". Có lẽ họ chưa từng nghĩ tới một sự giải thoát êm đẹp đến như vậy sau chừng ấy thời gian sống trong "địa ngục trần gian" các cấp lãnh đạo của chúng tạo ra. Trong số những tù binh Pháp, có một nữ tù binh duy nhất tên Giơnever ĐơGala nữ y tá của Pháp. Ngay sau khi bị bắt, cô đã viết thư cho Hồ Chủ tịch xin được ân xá. Thư của cô được chấp thuận, cô đã cùng với các bác sĩ Việt Nam chăm sóc cho số tù binh bị thương. Sau này khi được phóng thích, cô đã vô cùng vui mừng, cảm ơn chính sách khoan hồng của những người bạn Việt Nam và sau này đã có cuốn sách viết về trận Điện Biên Phủ.

Khó khăn lớn nhất lúc này là việc thu dọn chiến trường và giải quyết số lính Pháp bị bắt và bị thương. Rất nhiều thương binh địch gần hai tháng chất trong những căn hầm chật chội u ám, ngột ngạt, đầy ròi bọ dưới lòng đất đã được điều trị bởi số ít bác sĩ Pháp còn trụ lại được và những y, bác sĩ Việt Nam, những người trước đó còn căm hận đến xương tủy khi chúng đốt nhà, giết người cướp của đồng bào. Chỉ sau khi được giải thích kỹ chính sách của Đảng, họ mới cùng các chiến sĩ quân y của ta di chuyển thương binh địch lên mặt đất và cứu chữa cho chúng. Mấy ngày sau, số thương binh nặng được một máy bay Pháp nhận về sau khi được ta đồng ý trao trả. Không ai khác chính là Giáo sư Huya, người hơn 40 năm trước đã tới Thất Khê nhận thương binh sau chiến dịch Biên Giới đã có mặt tại Điện Biên Phủ thực hiện nhiệm vụ này. Sau này, cũng chính ông là người thay mặt Pháp ký biên bản với Việt Nam trong đó “bày tỏ lòng kính trọng đối với chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cảm ơn Quân đội nhân dân Việt Nam, nhờ họ mà việc mang thương binh đi đã có thể diễn ra trong điều kiện tốt nhất và đặc biệt là nhân viên y tế về những sự chăm sóc dành cho các thương binh quân đội viễn chinh Pháp từ khi thất thủ Điện Biên Phủ đến khi họ ra đi”.

Trước đó từ chiến dịch Biên Giới, sau thảm bại Đông Khê, rất nhiều lính Pháp bị thương dọc đường trong cuộc di tản dài đã được nhân dân Việt Nam chăm sóc, một viên quan 5 thầy thuốc trong số chúng còn phát biểu: "tôi đã được chứng kiến điều sau đây mà tôi sẽ không thể tin tý nào nếu không được tận mắt trông thấy: những thương binh quan trọng Pháp và Bắc Phi được phụ nữ Việt Nam khiêng cáng trên những đường núi hiểm trở”. Và từ đó đến này, sau mỗi trận đánh, ta tiếp tục lặp lại những hành động đầy ý nghĩa này.

Sau khi Bộ Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tiếp nhận số thương binh nặng nhất chuyển bằng máy bay về Hà Nội, tại mặt trận Điện Biên Phủ vẫn còn hàng trăm lính Pháp và Âu Phi cần được tiếp tục cứu chữa. Lập tức Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh thành lập một trại tù thương và cử đội ngũ cán bộ y tế có chuyên môn giỏi được điều động về trại tù thương cùng một số bác sĩ quân y Pháp bị bắt làm tù binh, khẩn trương bắt tay ngay vào việc chăm sóc, điều trị tù thương với một chế độ ăn uống hợp lý theo chỉ định của các bác sĩ điều trị. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương, sự chi viện đắc lực của ngành hậu cần về thuốc men, tinh thần làm việc tận tụy của cán bộ, nhân viên ban quản trị và đội ngũ cán bộ y tế của ta, sức khoẻ của tù thương dần dần hồi phục và chuyển dần về tuyến sau. 

Được rời khỏi trận địa Điện Biên Phủ, một người lính da đen đã ứa nước mắt nói với một bác sĩ ta:

- “Thưa ông, từ khi tôi có trí khôn, ngoài mẹ tôi ra, bây giờ tôi mới biết đến sự dịu dàng và lòng yêu thương".

Trong cuốn "Điện Biên Phủ - Nhớ lại để suy ngẫm", tác giả Trần Thái Bình đã kể lại câu chuyện về một sĩ quan Algieri sau khi bị bắt đã xin ở lại trong hàng ngũ Việt Minh, nhưng đã được thân ái khuyên nên trở về tổ quốc làm nghĩa vụ cho nước nhà. Được trao trả tự do, anh ta trở về tham gia mặt trận Dân tộc giải phóng Algieri, chiến đấu và trở thành một đại tá cục trưởng. Anh đã thực hiện một Điện Biên Phủ ở tổ quốc mình.

Chính sách khoan hồng đối với tù binh là nhất quán, là tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bắt đầu. Trong một bức thư gửi nhân dân Nam Bộ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Bác viết: "Đối với những người Pháp bị bắt trong cuộc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi họ khoan hồng, phải làm cho thế giới, trước hết cho dân Pháp biết rằng chúng ta chỉ đòi quyền độc lập, tự do, chứ chúng ta không vì tư thù, tư oán; làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc thông minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước".

Hòa bình, tự do là ước nguyện lớn nhất của nhân dân thế giới, đánh đuổi Pháp khỏi bờ cõi đất nước để mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc, Việt Nam luôn muốn thân ái, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, mong muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai./.

Hồng Nhung


[ ]

Tin liên quan
Công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Tham vọng của Navarre trong bản kế hoạch mang tên mình
Sự tương đồng hai chiến thắng lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam
Những con đường thắng lợi
Công tác nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học cho hiện vật
Ghi nhận trong công tác sưu tầm hiện vật
Tìm hiểu hoạt động của Bảo tàng
 
  Th? vi?n ?nh
Liên k?t web
Th?ng kê
 

 

Trang thông tin điện tử BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Nam Hải - Giám đốc
Địa chỉ: Phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Điện thoai: Văn phòng: 0215.3.828208. Phòng bán vé tại Bảo tàng: 0215.3.831341; Mail: btctlsdbp@gmail.com
Chỉ được phát hành lại thông tin từ website này khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ