Xem tất cả
Sơ đồ hướng dẫn tham quan
Quảng cáo
 
  Tuyên truyền      
ĐIỆN BIÊN PHỦ - ĐIỂM QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC GIỮA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ QUÂN ĐỘI VIỄN CHINH PHÁP

Điện Biên Phủ có tên tiếng Thái là Mường Thanh. “Mường Thanh” là đọc theo cách phát âm của tiếng Việt phổ thông. Nếu theo cách phát âm của tiếng Thái địa phương thì phải đọc là “Mướng Theng”. Mướng Theng có nghĩa là “Mường Trời”. Người dân tộc Thái gọi đất này là đất của trời. Tên gọi Điện Biên bắt đầu có từ năm 1841 bao gồm đất đai của tỉnh Lai Châu . Về tên gọi Điện Biên được đứng vào bậc hay nhất trong các tên đất nước ta. Điện là vững, Biên là biên giới. Điện Biên là “ biên giới vững vàng”.

Điện Biên Phủ có địa hình khá đặc biệt: bốn bên là núi hoặc những quả đồi nối tiếp nhau, ở giữa có một dải đất bằng phẳng giống như một thung lũng lọt thỏm giữa trùng điệp của núi non. Dải đất bằng phẳng đó được tô đậm bởi cánh đồng Mường Thanh rộng lớn, đã đi vào thơ ca: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”. Đây là một vựa thóc khổng lồ giữa miền rừng núi trùng điệp. Vào cuối thế kỷ 18 nhà bác học Lê Quý Đôn đã miêu tả khá tỉ mỉ về cánh đồng trù phú trong tài liệu sử học của mình: “Thế núi vòng quanh... Ruộng đất bằng phẳng, màu mỡ... công việc làm ruộng bằng nửa các châu khác mà số hoa lợi thu hoạch gấp đôi...”. Sau này cánh đồng Mường Thanh đã trở thành nơi trọng điểm về lúa gạo của tỉnh Lai Châu.

Ngoài điểm mạnh về nông nghiệp, Điện Biên Phủ còn có nhiều ưu thế khác. Nguồn tài nguyên rừng vô cùng phong phú, đa dạng, là nguồn nguyên liệu quý giá tại chỗ. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 5 (dương lịch) năm sau. Mùa mưa ở Điện Biên bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào khoảng cuối tháng 10 (dương lịch). Bên cạnh đó Điện Biên Phủ còn nằm trong hệ thống sông Đà và sông Mã. Riêng khu vực lòng chảo còn mang trong mình dòng sông Nậm Rốm, sau này đã trở thành dòng sông lịch sử.

Điện Biên Phủ đã bị người Pháp chiếm từ năm 1890 và nơi đây đã trở thành một trong bốn đạo quan binh của Pháp. Từ năm 1939 Điện Biên Phủ đã có một sân bay. Ngày 9/3/1945, quân Pháp đã qua con đường Lai Châu chạy sang Trung Quốc. Năm 1945, quân Nhật cũng có mặt ở Điện Biên Phủ.

Sau 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam nhất là thất bại sau một loạt chiến dịch tiến công và phản công của quân ta: Biên Giới - Thu Đông (1950), Hòa Bình - Đông Xuân (1951 – 1952), Tây Bắc - Thu Đông (1952), Thượng Lào - Hè (1953). Thực dân Pháp tổn thất nặng nề về lực lượng, tiêu tốn kinh tế của Pháp ở Đông Dương, đã tác động mạnh đến nội các đưa đến những mâu thuẫn của giai cấp thống trị làm bùng lên cuộc đấu tranh của quần chúng đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược. Lối thoát duy nhất lúc này là buộc thực dân Pháp phải lựa chọn là dựa hẳn vào Mỹ xin thêm viện trợ để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược với mong muốn giành thắng lợi quân sự quyết định để kết thúc chiến tranh trong danh dự. Tháng 5 năm 1953, với sự đồng ý của Mỹ, Thực dân Pháp đã cử tướng Henri Navarre tham mưu trưởng lục quân của khối Bắc Đại Tây Dương sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau hơn một tháng nghiên cứu và khảo sát chiến trường Navarre đã vạch ra kế hoạch quân sự mang tên “Kế hoạch Navarre” với mục đích xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương nhằm trong vòng 18 tháng chuyển bại thành thắng. Bản kế hoạch Navarre ra đời với những ưu điểm vượt trội, nhưng không hề có địa bàn chiến lược Điện Biên Phủ, một loạt các hoạt động, các cuộc hành quân được ông ta xúc tiến tại các mặt trận Bắc Bộ, Bình -Trị -Thiên và Nam Bộ.

Đầu tháng 10/1953, tại Tỉn Keo (Thái Nguyên) – căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì bàn nhiệm vụ quân sự trong Đông Xuân 1953 – 1954. Tại hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: Do địch đang dồn lực lượng cơ động chiến lược về đồng bằng Bắc Bộ, nên lúc này ta chưa nên đánh vào đồng bằng ngay mà phải phá tan âm mưu tập trung binh lực của địch, để tạo điều kiện tác chiến tương đối lớn. Lúc này, Bác nhận định: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn”. Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón tay trỏ về một hướng, trên chiến trường Bắc Bộ, sẽ mở cuộc tiến công lên vùng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch còn chiếm đóng Lai Châu, uy hiếp quân địch ở Thượng Lào. Hướng thứ hai, là Trung Lào. Hướng thứ ba, là Hạ Lào. Ta sẽ đề nghị quân giải phóng Pathet Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam mở cuộc tiến công vào hai hướng này, nhằm tiêu diệt sinh lực địch và giải phóng đất đai. Hướng thứ tư, là Bắc Tây Nguyên. Hướng thứ năm, là các chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và chiến trường sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, phải đẩy mạnh chiến tranh du kích, vừa kìm chân địch, vừa tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch trong khi chúng phải điều quân cơ động đi đối phó ở các hướng khác.

Sau khi phân tích rõ tình hình của địch: âm mưu những chỗ mạnh, chỗ yếu, khả năng tác chiến và những khó khăn, thuận lợi của ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận nhiều vấn đề. Về hướng hoạt động, Người chủ trương: “Lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động thì có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải “thiên biến vạn hóa”. Kế hoạch tác chiến của ta chưa kịp triển khai thì ngày 15 đến ngày 16/10/1953, Navarre đã chủ động ra tay trước bằng cuộc hành binh Mouette (Hải Âu) đánh ra Tây Nam Ninh Bình và cuộc hành binh Pélican (Con Bồ Nông) đánh vào vùng ven biển Thanh Hóa. Nhưng sau đó Navarre nhận được báo cáo: “Đại đoàn 316 đóng quân ở phía Nam Hòa Bình từ ngày 15 tháng 11 sẽ di chuyển về xứ Thái, nơi mà nó đã có sẵn một trung đoàn (Trung đoàn 176). Dự kiến Đại đoàn 316 sẽ đến Tuần Giáo vào khoảng từ ngày 7 đến ngày 11/12/1953”. Tin này chứng tỏ rằng hướng tiến công chủ yếu của đối phương trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954 không phải là đồng bằng Bắc Bộ như ông ta và Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã phán đoán, mà có thể lại chính là Tây Bắc. Và như thế cả Thượng Lào và Luông Prabang đều bị uy hiếp. Việc để mất Thượng Lào và Luông Prabang ngay khi một hiệp ước “phòng thủ chung” giữa Pháp và Lào vừa được ký kết, có thể dẫn tới những hậu quả chính trị, quân sự khó lường. Suy đi nghĩ lại, cuối cùng Navarre thấy phải “đi trước hành động của Đại đoàn 316 bằng cách tăng cường hệ thống bố trí ở xứ Thái, che chở cho Luông Prabang”. Để thực hiện theo ý đồ đó ngày 02/11/1953, Navarre chỉ thị cho tướng Cogny chuẩn bị chiếm đóng Điện Biên Phủ bằng một cuộc hành binh không vận vào trước ngày 01/12/1953.

Về quân sự xét vị trí địa lý trong bốn địa điểm: Điện Biên Phủ, Lai Châu, Luông Prabang và Viêng Chăn được nêu ra chọn lựa để bảo vệ Thượng Lào thì Điện Biên Phủ có lợi hơn cả so với Lai Châu, Luông Prabang và Viêng Chăn. Hai địa điểm trên đất Lào không đáp ứng được yêu cầu phòng thủ cả trên không, mặt đất và vận tải tiếp tế, do bị khống chế về địa hình và tầm bao quát. Lai Châu cũng vậy, tuy Pháp đã xây dựng căn cứ phòng thủ ở đây nhưng hiệu quả ngăn chặn không cao và rất khó trụ vững khi bị tiến công, do vị trí biệt lập lại xa đường tiến công của chủ lực quân ta.

Sau khi đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 20/11/1953, cuộc hành binh Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ được chính thức triển khai. Lúc này Navarre vẫn coi đây chỉ là “Cuộc hành binh thứ yếu có tính chất phòng vệ chiến lược và tính chất chính trị địa phương” chứ chưa có ý định lấy Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược.

Về phía ta: Vào trung tuần tháng 11/1953, sau khi đã hạ lệnh hành quân cho Đại đoàn 316, đơn vị có vinh dự được đi tiên phong trong cuộc tiến quân lên miền Tây Bắc và nhắc nhở các đơn vị khác chuẩn bị sẵn sàng cơ động. Ngày 19/11/1953, tại vùng rừng núi Thái Nguyên thuộc căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Tổng tư lệnh quân đội ta mở hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch Đông Xuân 1953 – 1954. Đại tướng thay mặt Tổng Quân ủy phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị và kế hoạch tác chiến của ta trong chiến cuộc Đông Xuân. Các đại biểu về dự hội nghị tích cực tham gia thảo luận từ chủ trương, phương châm chỉ đạo tác chiến tới nhiệm vụ và những yêu cầu cụ thể của từng hướng chiến trường.

Hội nghị họp đến ngày thứ hai thì địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Ngay tối hôm đó Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã kịp thời họp bàn để xem xét, đánh giá tình hình. Nhận định và kết luận bước đầu của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh là: “...Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, mặc dù ta không phán đoán được cụ thể về địa điểm và thời gian, nhưng cũng nằm trong phạm vi phán đoán trước của ta là nếu Tây Bắc bị uy hiếp thì địch sẽ tăng viện lên hướng đó. Như vậy là trước sự uy hiếp của ta, địch đã phải bị động đối phó, phân tán một bộ phận lực lượng cơ động lên Điện Biên Phủ để yểm hộ cho Tây Bắc, để che chở cho Thượng Lào, để phá kế hoạch tiến công của ta”.

Phía ta mặc dù ta cũng không thể biết rõ địch sẽ tăng viện thêm hay rút quân nhanh chóng khỏi Điện Biên Phủ nhưng bất cứ địch thay đổi thế nào thì khi địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là có lợi cho ta. Vì thế cần phải tìm cách kéo thêm chủ lực của địch lên Điện Biên Phủ và giữ chúng lại đó. Từ những nhận định trên thì Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định Đại đoàn 316 vẫn gấp rút tiến quân lên đánh địch ở Lai Châu và điều thêm Đại đoàn 308 lên bao vây địch ở Điện Biên Phủ.

Sau khi biết tin có thêm Đại đoàn 308 của ta hành quân lên Tây Bắc, Navarre và nhiều nhà quân sự Pháp đã nhận định Điện Biên Phủ “là một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương, mà còn đối với miền Đông Nam Á – một trục giao thông nối liền các miền biên giới Lào, Thái Lan, Miến Điện và Trung Quốc”. Đó là một cái “chìa khóa để bảo vệ Thượng Lào”, một “bàn xoay” có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc. Điện Biên Phủ lại là một cánh đồng rộng lớn nhất, đông dân và giàu có nhất vùng Tây Bắc. “Lúa gạo của vùng này có thể nuôi sống từ 20.000 đến 25.000 người trong nhiều tháng”. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp “có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong năm 1952 – 1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của đối phương nếu họ đến đấy”.

Với con mắt của nhà binh, Navarre đã nhìn thấy ưu điểm của vùng đất này: “Đất này mà xe tăng cơ động thì tuyệt. Sân bay có thể mở rộng gấp hai ba lần. Đảo mắt lên những ngọn núi cao vút, rất xa, vây quanh lòng chảo, viên tướng thấy một không gian rộng cho phép các loại máy bay hoạt động lên xuống dễ dàng, những ngọn núi đó, bức thành thiên nhiên ngăn chặn không cho quân đối phương đặt pháo với tầm tới lòng chảo. Bên cạnh đó những tính toán của Navarre về những khó khăn của Quân đội nhân dân Việt Nam trong vận chuyển vũ khí, đạn dược và lương thực đã khiến viên tướng này hài lòng. Quân đội nhân dân Việt Nam không thể mở đường bằng sức lao động thủ công nên không thể đưa pháo vào trận địa và vận chuyển cơ giới qua vùng Tây Bắc hiểm trở, nếu có cũng là rất ít. Cũng vì thế, vấn đề lương thực là một vấn đề nan giải đối với một lực lượng chiến đấu lên đến hàng chục vạn người. Quân đội Nhân dân Việt Nam không chịu nổi thời tiết, khí hậu khắc nghiệt ở Tây Bắc, là những người miền xuôi, họ sẽ ốm đau, mệt mỏi không duy trì được sức chiến đấu liên tục, mùa mưa tới vận tải khó, đời sống chiến hào sẽ thiếu thốn, sẽ xảy ra nạn dịch lúc đó không đánh cũng thua. Hơn nữa, Điện Biên Phủ còn là một Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, có số quân đông nhất, được trang bị phương tiện chiến đấu hiện đại, đầy đủ nhất, có thời gian chuẩn bị bố trí phòng thủ dài nhất. Trước đây, ta đã không có cách gì đánh bại được hình thức phòng ngự này của Pháp ở Hòa Bình, Nà Sản, cánh đồng Chum... thì bây giờ càng không thể đánh thắng được ở Điện Biên Phủ. Navarre hy vọng sẽ kìm giữ đại bộ phận lực lượng chủ lực của ta ở Điện Biên Phủ nhằm phá vỡ kế hoạch tác chiến và thế bố trí chiến lược trên các chiến trường làm tiêu tan quyền chủ động tiến công của ta. Quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ phải bảo vệ Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào và đưa thêm lực lượng lên tăng cường phòng ngự, xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài bất khả xâm phạm, một cứ điểm mạnh hơn cả Nà Sản. Vậy đến lúc này thì ta thấy rằng mặc dù trong kế hoạch Navarre không hề có tên Điện Biên Phủ nhưng nó lại trở thành điểm quyết chiến chiến lược trong Đông Xuân này.

Cùng thời gian này thì phương án tiến công Điện Biên Phủ của ta về cơ bản cũng được dự thảo xong. Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết định giao chiến với Quân đội viễn chinh Pháp tại Điện Biên. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhận định: Điện Biên Phủ là trung tâm điểm của kế hoạch Navarre, ta muốn phá kế hoạch Navarre thì phải tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ là Tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng nó có cái yếu cơ bản là bị cô lập, cách xa hậu phương của địch, mọi việc tiếp tế đều bằng đường hàng không. Nếu ta vô hiệu hóa được đường hàng không thì quân địch ở đây sẽ bị bế tắc. Ta cũng gặp khó khăn về mặt đường sá, tiếp tế nhưng ta có thể khắc phục được khó khăn này bằng cách huy động toàn bộ sức lực của hậu phương.

Sau khi cân nhắc vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ ngày 3/12/1953 Navarre đi tới quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một Tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương và hạ quyết tâm lấy Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân chủ lực của ta. Chiến dịch Điện Biên Phủ được mở màn vào ngày 13/3/1954 và kết thúc vào ngày 7/5/1954 qua 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ và ác liệt quân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn./.

Hồng Lưỡng


[ ]

Tin liên quan
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ NGƯỜI PHÁT HIỆN, TỐ GIÁC, NGƯỜI ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, TIÊU CỰC
VỀ ĐIỆN BIÊN NGHE KỂ CHUYỆN ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
LỄ HỘI TÉ NƯỚC – BUN HUỘT NẶM CỦA DÂN TỘC LÀO Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM LẦN THỨ XII ĐẾN CÁC CẤP CÔNG ĐOÀN
KỶ NIỆM GẶP ANH HÙNG PHÁO BINH - PHÙNG VĂN KHẦU
Đón Tế Kỷ Hợi 2019 trên mảnh đất Điện Biên Phủ anh hùng
Điệu xòe yêu thương
Hoa Ban rạng rỡ đất Mường Thanh
40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc
 
  Thư viện ảnh
Liên kết website
Thống kê
 

 

Trang thông tin điện tử BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Nam Hải - Giám đốc
Địa chỉ: Phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Điện thoai: Văn phòng: 0215.3.828208. Phòng bán vé tại Bảo tàng: 0215.3.831341; Mail: btctlsdbp@gmail.com
Chỉ được phát hành lại thông tin từ website này khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ