Xem tất cả
Sơ đồ hướng dẫn tham quan
Quảng cáo
 
  Tuyên truyền      
ĐIỆN BIÊN – ĐẤT VÀ NGƯỜI

Điện Biên trước đây là một huyện của tỉnh Lai Châu, ngày 18 tháng 4 năm 1992, thị xã Điện Biên được thành lập theo Quyết định số 130/HĐ-BT của Hội đồng Bộ trưởng, là thị xã của tỉnh Lai Châu. Ngày 26 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký ban bành Nghị định số 110/2003/NĐCP thành lập thành phố Điện Biên Phủ trực thuộc tỉnh Lai Châu trên cơ sở diện tích tự nhiên, dân số và đơn vị hành chính trực thuộc thị xã Điện Biên Phủ. Ngày 26/11/2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh trong đó có Lai Châu. Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên. Từ ngày 01/01/2004 tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động.

Đến với Điện Biên là đến với một vùng rừng núi bao la trùng điệp đan xen những thung lũng nhỏ hẹp, màu mỡ. Trung tâm là cánh đồng Mường Thanh, nằm trên trục đường từ Thượng Lào qua Lai Châu, xuống Sơn La... về Hà Nội và từ Tây Nam Trung Quốc xuống miền Trung Việt Nam, Trung Lào. Với địa thế đó, Điện Biên đã được xem là vùng đất mà một tiếng gà gáy người dân ba nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc đều nghe thấy. Cũng bởi vậy mà Điện Biên là điểm gặp, nơi hội tụ của nhiều dân tộc, tiếng nói, văn hóa, phong tục tập quán khác nhau. Bao bọc xung quanh cánh đồng Mường Thanh là những dãy nũi cao thấp khác nhau, muôn hình muôn vẻ. Phía Tây và Nam là dãy núi Pú Xam Xao chạy dọc biên giới Việt – Lào, với đỉnh cao nhất là 1.897m, tạo thành một dãy trường thành thiên nhiên – một bức bình phong kỳ vĩ. Phía Bắc giáp với Pú Xam Xao là dãy Tây Trang – một hệ thống núi đá vôi, có nhiều cây cối và  hang động tự nhiên hấp dẫn, có cửa khẩu Tây Trang – cửa ngõ của Điện Biên và cả vùng Tây Bắc thông sang vùng Thượng Lào. Phía Đông có dãy nũi cao từ 1.200m đến 1.700m, từ dãy nũi chính này xòe ra ba nhánh ôm lấy cánh đồng Mường Thanh. Xen giữa những dãy núi là những thung lũng hẹp, những cánh đồng mà diện tích rất khiêm nhường, xinh xắn, men theo những dòng suối, những chi nhánh thượng nguồn của sông Mã, sông Nậm Mức, Nậm Núa. Chính những dòng suối, nhánh sông nhỏ này đã đem lại sự màu mỡ, sức sống cho những cánh đồng ở Điện Biên, đem lại màu xanh trù phú ấm no cho những bản mường nơi cực Tây của Tổ quốc.

Khí hậu Điện Biên chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 5 (dương lịch) năm sau. Thường về mùa khô, trong thung lũng Mường Thanh, sương mù bao phủ dày đặc và chỉ tan khi mặt trời thoát khỏi những dãy núi phía Đông, vào mùa này khí hậu khô hanh ít mưa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 (dương lịch). Với kết cấu địa hình đa dạng, đất đai màu mỡ, trù phú nên Điện Biên có nhiều nguồn tài nguyên quý giá. Ngoài lúa gạo Mường Thanh đứng đầu Tây Bắc, Điện Biên có nguồn lâm thổ sản dồi dào như: sa nhân sáp vàng, lưu huỳnh, sắt; động vật muông thú khá đa dạng cùng nhiều thứ gỗ quý như: lim, lát, pơmu...Theo một số nhà sử học, dân tộc học và khảo cổ học, từ rất sớm Điện Biên nằm trên con đường giao lưu văn hóa. Bởi vậy nơi đây đã xuất hiện yếu tố giao lưu giữa văn hóa trồng trọt của các cư dân bản địa – văn minh lúa nước ở Đông Nam Á với văn hóa của cư dân các vùng lân cận.

Khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời (9/1945) Điện Biên – Mường Thanh là quê hương của mười dân tộc anh em, những dân tộc đó có ở Mường Thanh vào từng thời điểm khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng cùng chung mục đích là ổn định cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng bản mường. Những dân tộc định cư lâu đời ở đất Mường Thanh gồm người Kinh, người Thái, người Mông, người Tày, người Khơ Mú, người Lào....

Từ trước tới nay người Thái là cư dân chiếm số dân đông nhất ở Điện Biên. Người Thái chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, lúa nước là nguồn lương thực chính. Họ có kinh nghiệm trong việc đưa nước vào canh tác và sử dụng để sinh hoạt. Bằng chứng sống động của điều này là hệ thống mương xây dựng hoàn chỉnh trên cánh đồng Mường Thanh và hàng trăm cối giã gạo hoạt động bằng cánh quạt, guồng nước dày đặc dọc theo các sông suối. Phụ nữ Thái giỏi trồng bông, trồng dâu nuôi tằm làm nguyên liệu dệt vải, sản phẩm nổi tiếng là vải thổ cẩm với hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ. Người Thái ở Điện Biên còn thạo nghề chài lưới, giỏi chăn nuôi trâu bò, gà lợn,... Ngành nghề đa dạng, nghề nào cũng thành thạo, giỏi giang nên đời sống vật chất của người Thái thường khấm khá hơn những dân tộc thiểu số khác, và cũng từ đó đời sống tinh thần phong phú, đa dạng, biểu hiện ở những lời ca, điệu múa, những tác phẩm văn học khá nổi tiếng. Cùng với các dân tộc anh em khác, người Thái đã dốc hết tâm sức của mình vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ góp phần quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Đến với dân tộc Mông, dân tộc có số dân đông đứng thứ hai ở Điện Biên. Người Mông ở Điện Biên thường cư trú trên những dẻo núi cao bao bọc xung quanh lòng chảo Mường Thanh cách ngày nay hơn một trăm năm. Chọn nơi đây sinh sống, người Mông đã dần dần hòa đồng với  các dân tộc anh em, với đức tính cần cù, người Mông đã biến những triền núi thành ruộng bậc thang, trồng hai vụ lúa một năm. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) người Mông ở Điện Biên phát huy tinh thần đấu tranh kiên cường, nhiều căn cứ kháng chiến được người Mông xây dựng như Pú Nhung, Mường Tình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, người Mông ở Điện Biên cùng chung lòng, chung sức với các dân tộc anh em xây dựng bản làng quê hương yên bình, làm thất bại các âm mưu gây rối, phá hoại của các thế lực thù địch; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, số người Kinh sinh sống ở Mường Thanh vẫn còn rất ít. Phải đến kháng chiến chống Pháp và đặc biệt từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước, người Kinh mới lên xây dựng quê hương mới ở Điện Biên ngày càng đông. Người Kinh thường sống tập trung ở các thị trận, thị xã, dọc đường giao thông chính. Trên quê hương mới ở Điện Biên, trong bất cứ thời kỳ nào, người Kinh cũng được sống trong sự đùm bọc, chở che, giúp đỡ của người dân bản địa, trong tình đoàn kết keo sơn của đại gia đình dân tộc Việt Nam, trong sự ưu ái của đất đai, tài nguyên của Điện Biên. Hiện nay, ở Điện Biên dân số người Kinh đứng thứ ba sau người Thái và người Mông.

Ở Điện Biên còn có người Lào, người Tày – những tộc người đến sinh cơ lập nghiệp muộn hơn, nhưng dù sớm hay muộn họ đều xem Điện Biên là nơi “chôn rau cắt rốn” của mình. Người Lào hay người Tày đều là những nông dân cần cù, sống thành từng cụm gồm nhiều gia đình, sống cạnh những cánh đồng phì nhiêu hoặc dọc theo những con sông nhỏ, cày cấy, canh tác, tạo lập cuộc sống. Người Lào, người Tày còn giỏi dệt thổ cẩm, chài lưới,... Họ cũng là chủ nhân của những làn điệu dân ca trữ tình, những điệu múa mềm mại, uyển chuyển. cũng như những dân tộc anh em khác trên đất Mường Thanh, người Tày – người Lào yêu chuộng hòa bình; sẵn sàng chống lại mọi thế lực áp bức và kẻ thù ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền quê hương đất nước.

Ngoài những dân tộc có số lượng khá đông nêu trên, người Khơ Mú, người Kháng, người Cống cũng là những dân tộc tiêu biểu ở Điện Biên, trước đây ba tộc người này thường du canh du cư, nay đây mai đó, sống bám theo những triền núi; thu nhập chính là những món lúa nương ít ỏi. Giờ đây họ đã định cư thành làng bản, tăng gia sản xuất tập trung, đời sống kinh tế tuy còn nhiều khó khăn, nhưng cũng cao hơn trước nhiều lần.

Điện Biên có vị trí địa lý quan trọng và là miền đất trù phú nên các dân tộc tới làm ăn sinh sống ngày càng đông, cùng chung sức chế ngự thiên nhiên, sản xuất và chiến đấu bảo vệ vùng đất cực Tây của Tổ quốc. Từ trong lao động tình đoàn kết giữa các cộng đồng các dân tộc ở nơi đây càng thêm keo sơn, bền chặt.  Sống và chiến đấu trên mảnh đất quê hương lịch sử anh hùng, nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên rất đỗi tự hào vì đã cống hiến nhiều nhân tài, vật lực góp phần vào chiến thắng oanh liệt bậc nhất của lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong ngàn vạn địa danh lịch sử trên bản đồ Tổ quốc từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau, tên gọi Điện Biên Phủ nổi lên như một mốc son chói lọi, được nhân dân thế giới nhắc đến với tấm lòng cảm phục chân thành./.

Việt Hằng

 

 


[ ]

Tin liên quan
XUÂN GIÁP NGỌ 1954 TRÊN MẶT TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
NGHIÊN CỨU, KHẢO SÁT VÀ TÌM KIẾM CÁC DI TÍCH THÀNH PHẦN BỔ SUNG VÀO DANH MỤC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶ BIỆT CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
NGƯỜI THƯƠNG BINH ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CẤP SỔ THƯƠNG TẬT
NGƯỜI LIỆT SĨ ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
DI TÍCH BÃI HỌP CÁC QUÂN BINH CHỦNG TUYÊN BỐ CHIẾN THẮNG
NHỮNG CÂU CHUYỆN ẨN CHỨA TRONG CÁC HIỆN VẬT ĐƯỢC LƯU GIỮ VÀ TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
CÔNG VIỆC THẦM LẶNG CỦA ANH NUÔI TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
SỰ ĐÓNG GÓP CỦA DÂN CÔNG VỚI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
ĐIỆN BIÊN PHỦ - ĐIỂM QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC GIỮA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ QUÂN ĐỘI VIỄN CHINH PHÁP
 
  Thư viện ảnh
Liên kết website
Thống kê
 

 

Trang thông tin điện tử BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Nam Hải - Giám đốc
Địa chỉ: Phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Điện thoai: Văn phòng: 0215.3.828208. Phòng bán vé tại Bảo tàng: 0215.3.831341; Mail: btctlsdbp@gmail.com
Chỉ được phát hành lại thông tin từ website này khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ